Vài Nét Sơ Lược Về Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Của Ngành Sản Xuất Gốm Sứ Bình Dương
II /Vài Nét Sơ Lược Về Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Của Ngành Sản Xuất Gốm Sứ Bình Dương
Trên đất Bình Dương
hiện nay có ba làng nghề sản xuất gốm sứ tạo nên những sắc thái riêng của đời sống
kinh tế văn hóa xã hội của Bình Dương .Vậy
gốm đã có từ bao giờ , ngành nghề tiểu thủ công gốm sứ từ đâu đến đất này , là
những vấn đề cần lý giải :
1/Gốm cổ trên đất
Bình Dương
Theo tài liệu khảo cổ và các di vật khảo cổ
tìm đươc cho thấy trên đất Bình Dương cách nay hàng ngàn năm trước đã có con
người sinh sống ,có các công cụ phục vụ đời sống ,trong đó nhiều nhất là các
công cụ ằng đồ gốm .Di tích khảo cổ ở Dốc Chùa ( chùa Tân Uyên ) đã tìm thấy
trên trên 250.000 mảnh vỡ và hàng trăm mảnh khác tìm thấy ở Bến Lớn (Tân Định
–Bến Cát ) đã chứng tỏ nghề thủ công sản xuất đồ gốm đã khá phổ biến , rất quan
trọng trong đời sống cư dân Biên Hòa lúc bấy giờ .Nghề gốm đã tồn tại như là một
ngành chuyên môn thực sự . Ở đây đã có những người thợ có trình độ kỹ thuật ,
có kinh nghiệm khéo tay chuyên làm những vật dụng bằng gốm như nồi , vò , bình
, bát , chậu …(18-173). Khéo tay chuyên làm những vật dụng bằng gốm như nồi ,
vò , bình , bát , chậu …(18-173) .Về trang trí các hoa văn gốm còn thô sơ : chỉ
có loại hoa văn khắc ,vạch , ô vuông , dạng
dây thừng . Cũng theo di chỉ khảo cổ , người ta biết rằng dân cư ở Dốc Chùa là
loại hình nhân chủng Indonesia , mà hậu duệ của họ ngày nay còn tồn tại , đó là
các dân tộc Stieng , Châu Mạ …
Thế nhưng khoảng
hơn 2000 năm sau ,dấu tích nghề gốm trên vùng này chưa tìm thấy . Như vậy nghề
gốm cổ gắn liền với cư dân bản địa đã xuất hiện và do biến cố nào đó đã mai một
đi , không còn phát triển liên tục cho đến ngày nay .
Cũng trên đất Bình Dương , ở Tân vạn Biên Hòa
, một phần là Dĩ An Bình Dương , theo lời
truyền lại trong dân gian thì nơi đây là vùng gốm dân dụng lâu đời trước khi
nghề gốm của người Hoa du nhập vào xứ sở này . Điều đó được chứng minh cho đến
nay còn nhiều lò sản xuất gạch ngói nổi tiếng và sản xuất các loại vật liệu xây
dựng khác được chế tạo từ đất sét đang hoạt động , mà những chủ nhân của các lò
cũng không biết chính xác nghề và lò của
họ do ông cha để lại từ bao giờ .
Như vậy nghề sản xuất
gốm trên đất Bình Dương cùng với cư dân bản địa đã từng tồn tại , nhưng để trở
thành làng nghề với quy mô lớn , sản xuất ra sản phẩm hàng hóa thì phải có sự
góp phần quan trọng của sự du nhập nghề gốm của người Hoa vào Bình Dương . ba làng gốm đã hình
thành và phát triển cho đến ngày nay gốm : Tân Phước Khánh ( Tân Uyên ) , Lái
Thiêu ( Thuận An ) và Chánh Nghĩa ( Thị Xã Thủ Dầu Một )
2/Các làng nghề
truyền thống về gốm sứ của Bình Dương :
a/ Làng nghề gốm
Tân Phước Khánh ( tân Uyên ):
Theo truyền thuyết
trong dân gian kể lại , cách nay trên ba thế kỷ có người dân tộc ít người (có
thể là người stieng ) ở vùng tân Uyên đi đào củ rừng ven suối ,khi đào sâu xuống
đất , mũi trỉa ( một loại dụng cụ chuyên đào củ rừng ) bị dính chặt bởi một loại đất lạ màu trắng .Người ấy lấy đất
thoa lên tay và mặt thấy đẹp và mưỡi rừng không đốt nữa . Từ đó cả ộ tộc ấy thường
lấy đất trắng này thoa lên người để trừ muỗi và làm dấu để nhận ra nhau khi đi săn ắn , hái lượm trong rừng .
Vào thời ấy ,được sự
cho phép của Chúa Nguyễn (cụ thể là Chúa Nguyễn Phước lan năm 1633 đã kí lệnh
cho mở thêm 3 thương cảng ) các thương thuyền của nước ngoài thường đến các
thương cảng mới như Hội An , Đà Nẵng để lung mua hàng hóa trong nội địa Việt
Nam .Trong số các thương thuyền nước ngoài Chúa Nguyễn ưu ái hơn đối với các
thương thuyền người Trung Hoa ,nên họ được đi sâu vào đát liền để tìm mua hàng
( 9) . Có một thương nhân người Hoa thường đưa thuyền buôn của mình vào cửa rạch
Bến Nghé rối ngược lên thượng lưu sông Đồng Nai , đến quãng Tân Uyên ( ngày nay
)thì bắt gặp những người trong bộ tộc thường xoa đất trắng trên người . Thấy lạ
, ông ta quan sát , đi tìm và thấy đó là
loại đất quý , làm được gốm sứ .Từ đó các chuyến hàng sau ông ta mang một số
người Hoa khác đến vùng này định cư ,mở lò sản xuất gốm sứ . sản phẩm làm ra
bán cho kinh thành Huế và thành Gia Định sử dụng , số khác đưa lên thuyền mang
về bán ở Trung Hoa (2 ).
Vào năm 1867 một ngôi
chùa của số lưu dân người Hoa được xây dựng
ở Bình Dương . gọi là chùa nhưng không phải theo kiểu đạo Phật mà thực ra đó là cái miếu lớn thờ bà Thiên hậu
Thánh Mẫu (*)hàng năm vào ngày rằm tháng giêng ở đây có tổ chức lễ hội lớn ,
thu hút trên cả triệu người ( đa số là người Hoa các nơi ở nam bộ ) đến viếng
chùa Bà này . Trong số đồ cúng nhân ngày khánh thành ngôi “ChùaBà “ còn có lư
hương và bình hoa bằng gốm .trên chiếc bình hoa còn vẽ hình Bát Tiên và có in
chữ “Tân Khánh Thôn’’.Điều này chứng minh rằng người Hoa đến đây lập lò sản xuất
gốm khá lâu trước khi ngôi chúa Bà được
thành lập . theo một số vị cao niên thì chủ nhân của hai hiện vật dâng cúng
Chùa Bà kể trên là ‘’Chú Màu’’ gốc Quảng Đông chủ lò gốm hiệu Thái Xương Hòa
nay vẫn tồn tại ,đang sãn xuất gốm sứ ở Tân Phước Khánh .
b/ làng gốm sứ Lái
Thiêu :
theo nhà văn , nhà
ghiên cứu Sơn nam và qua ý kiến một số nghệ nhân gốm sứ thì nghề gốm du nhập
vào lái Thiêu Bình Dương vào cuối thế kỷ XIX do những người Hoa theo chân các
đoàn thuyền buôn vào , và qua đường bộ từ Móng Cái sang vùng Gia Định lập nghiệp
.Trong số lưu dân người Hoa đó có những người vốn là thợ gốm họ thấy vùng Lái
Thiêu thuận lợi cho việc sản xuất gốm
nên họ định cư và mổ lò sản xuất gốm .
Phù hợp với ý kiến
trên trong niên giám và địa lý Thủ dầu Một do thực dân Pháp để lại cho thấy rằng
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ‘’Ở Thủ Dầu Một còn có mỏ cao lanh , 10 lò gốm
và nhiều mỏ đá ‘’(3). Khi đó các lò gốm được xây dựng dọc theo bờ rạch Tân Thới
với đia6 hình có các triền gò cao dần lên từ bờ rạch , rất thuận lợi cho việc xây
dựng lò gốm .Sản phẩm làm ra từ lò gốm lúc ấy gồm các loại lu , hũ , khạp vại ,
chậu ,xiêu nấu nước …với da men màu đen và màu da lươn .Một số hiệu lò nổi tiếng
nhất như Anh Ký , Quảng Thái Xương , Kiến Xuân ,Liên Hiệp Thành từ xưa cho đến
ngày nay vẫn còn tồn tại và làm ăn hiệu quả .Chủ lò gốm Vương Kiến Xuân hiện
nay tên Vương Thế Hùng cho biết lò gốm của ông ta được truyền nối từ đời ông cố
nội tên là Vương Tổ từ Phước kiến sang đây lập nghiệp đến nay đã có đến trên
130 năm .
Mặc dù các tài liệu
thành văn từ xưa để lại không ghi cụ thể những lò gốm lái Thiêu có từ năm nào ,
nhưng những nguồn gốc như trên đã nêu có tính thực tế hơn , bởi theo nhà văn
Sơn Nam có nêu gốm lái Thiêu được truyền lên từ gốm Cây mai – Chợ lớn ( Sài Gòn
). Bởi vì Lái Thiêu chỉ cách vùng gốm trên dưới 15 km . Thế nhưng ý kiến này
không đủ độ tin cậy lắm , vì gốm Cây Mai ( theo tài liệu khảo cổ gần đây ) chủ
yếu sản xuật ra sản phẩm trang trí trong các Đình , Chùa của người Hoa ở Việt
Nam . Trong khi đó gốm Lái Thiêu sản xuất ra các sản phẩm thông dụng cung cấp
cho nhân dân sử dụng .Như vậy trên thực tế từ các sản phẩm sản xuất ra gốm Cây
Mai , và gốm Lái Thiêu khác nhau hoàn toàn ,nên khó có thể khẳng định rằng nghề
gốm Lái Thiêu là do gốm Cây Mai dời lên để sản xuất ở đây được .
Ngày nay nghề gốm
Lái Thiêu phát triển khá phong phú đa dạng , số cơ sở sản xuất gốm sứ Lái Thiêu
chiếm số lượng khá lớn trong toàn thể ngành nghề sản xuất gốm sứ của Bình
Dương.
c/ Làng gốm sứ
Chánh Nghĩa ( Thủ Dầu Một ) .
Làng gốm Chánh
Nghĩa thời xa xưa còn gọi là gốm Bà Lụa thuộc thôn Phú Cường huyện Tân Bình (
dưới triều Nguyễn ) . Dưới thời Pháp thuộc
, làng gốm này thuộc làng Phú Cường tỉnh Thủ Dầu Một chính trong giai đoạn
này xuất hiện câu ca dao mà nhiều người Bình Dương đều biết :
‘’Chiều chiều mượn
ngựa ông Đô
Mượn ba chú lính
đưa cô tôi về
Đưa về chợ Thủ bán
hũ , bán ve
Bán bộ đồ chè , bán
cối đâm tiêu’’.
Sau ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng (4/1975) làng gốm Chánh Nghĩa nắm trong phường Chánh Nghĩa
thị xã Thủ Dầu Một ,tỉnh Bình Dương như hiện nay .
Về nguồn gốc và thời
điểm hình thành làng gốm Chánh Nghĩa cũng có hai loại ý kiến khác nhau .
Loại ý kiến thứ nhất
mà đại biểu là nhà văn , nhà nghiên cứu Sơn Nam và trong sơ thảo lịch sử Đảng bộ tỉnh
Sông Bé , thì cho rằng nguồn gốc gốm Chánh Nghĩa được du nhập đến từ làng gốm
Cây Mai ,Gia Định và từ Lái Thiêu chuyển lên , khoảng thời gian giữa thế kỷ XIX
. Loại ý kiến này chưa đủ cơ sở chứng minh .
Loại ý kiến thứ hai
:căn cứ vào chứng tích cụ thể còn lại của làng gốm Chánh Nghĩa thì cho rằng vào
những năm 1840-1850 tại làng Chánh Nghĩa có ba lò gốm xuất hiện đầu tiên ở đất
này ,để sau đó nghề gốm dần dần định hình phát triển thành làng nghề đông đúc
cho đến ngày nay .
Ba lò gốm đó có lịch
sử như sau :
-Cơ sở thứ nhất có
tên là lò Vương Lương , dân gian là lò Ông Tía đặt gần cảng Bà Lụa ngày nay .
Ông Vương Lương người tỉnh Phước Kiến sang Việt Nam .Lò được xây dựng trên ngọn
đồi thấp bên cạnh môt con rạch rất thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy ra
sông Sài Gòn .Chủ lò Vương Lương lúc ấy là ông nội của ông Vương Lăng ( thường
gọi là út Lăng ) ông đã 92 tuổi và ông chết năm 1998, như vậy giả sử cha ông lớn
hơn 30 tuổi , ông nội lớn hơn cha 25 tuổi thì tính ra có khoảng 140 -150 năm (
90 ,30,25 bằng 145 ), đó cũng là số năm mà
lò gốm Vương Lương xuất hiện .Lò Vương Lương ngày nay không còn tồn tại , nhưng
con rạch cạnh lò gốm đến nay vẫn còn và tên con rạch ấy chính là tên gọi khác của
chủ lò gốm đầu tiên của xứ này : rạch ‘’Vàm Ông Tía’’.
-Cơ sở thứ hai còn
tên là lò Chín Thận .Người ta không còn nhớ họ tên thật của người này , chỉ
nghe truyền lại ông thứ 9 tên Thận , là một người Việt rất vui tính , cởi mở ,
hào phóng , vốn là người giàu có và có uy tín trong khu vực , ông thường tiếp
xúc với chủ lò ở vùng Tân Khánh ,Lái Thiêu .Về sau ông chiêu mộ một số thợ giỏi
các nơi (dĩ nhiên số thợ này là người Hoa ) về mở lò gốm tại khu đất cách chợ
Thủ khoảng hơn 1km.dần dần lò gốm nơi đây được nhân ra , trở thành khu lò chén
ngày nay .Riêng lò của ông Chín Thận hiện nay cũng không còn ,dấu tích còn lại
chỉ còn một cây cầu trên con lộ đi vào khu lò chén có tên của ông : ‘’Cầu Chín
Thận’’.
-Cơ sở thứ ba có
tên là lò Tứ Hiệp Thành ,chủ nhân lò gốm này Trần Lâm , người Hoa trong số con
cháu của những lưu dân trong đoàn quân của tướng Dương Ngạn Địch ,Trần Thượng
Xuyên định cư ở Cù Lao Phố ngày xưa ,do vậy chủ lò này thường xuyên trao đổi kỹ
thuật ,trao đổi công nhân qua lại với lò gốm trong thân tộc ở Biên Hòa –Đồng
Nai ,để tồn tại và phát triển . Hiện nay tên lò Tứ Hiệp Thành ( Tứ Hòa ) vẫn
còn tồn tại ,là một cơ sở gốm sứ làm ăn cũng khá phát đạt .
Từ ba lò gốm đầu
tiên ,cùng thời gian xuất hiện đã nêu trên dần dần đã taọ nên làng gốm sứ Chánh
Nghĩa Thủ Dầu Một ngày nay .Cùng với làng gốm Lái Thiêu , làng gốm Tân Phước
Khánh , làng gốm Chánh Nghĩa xuất hiện trên đất Bình Dương đã tạo nên một ngành
nghề có giá trị kinh tế , gí trị lịch sử văn hóa khá quan trọng của địa phương
.
Qua xem xét nguồn gốc
hình thành của từng làng gốm đã cho thấy có một nét chung nhất về gốm sứ Bình
Dương như có cùng thời gian xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX ,các chủ nhân
lập lò đa số là những lưu dân người Hoa – từ miền duyên hải Trung
Hoa sang Việt Nam – và khởi nguồn đầu tiên sản xuất gốm sứ Bình Dương có thể
xem các lò gốm ở vùng Tân Phước Khánh là phù hợp hơn với các lý do :Tân Phước
Khánh gần Cù Lao Phố là nơi đầu tiên những lưu dân người Hoa đến sinh sống , có
mỏ cao lanh và rừng rậm nhiều củi đốt , thuận lợi cho việc mở lò sản xuất gốm
d/ Các trường phái
gốm sứ :
Ngoài việc phân iệt
rành mạch gốm , sành , sứ có sự khác nhau rất rõ ràng , giới gốm sứ Bình Dương
còn có sự phân định khác cũng khá lý thú .Sự phân định này tồn tại từ lúc mới
hình thành các làng gốm sứ cho đến thời gian gần đây .Sự phân định này thường
được gọi là ‘’trường phái ‘’gốm sứ . Xuất phát từ nguồn gốc của các chủ nhân lò
gốm sứ ,họ đến từ các địa phương khác nhau , từ các tộc khác nhau , họ mang
theo vốn tay nghề sẵn có và kinh nghiệm truyền thống chỉ làm ra một chủng loại
hàng gốm sứ mang sắc thái riêng từ đó người ta gọi là ‘’trường phái’’. Cơ bản
có các ‘’trường phái ‘’như :
-Trường phái Quảng :(Đa
số người chủ lò gốc ở Quảng Đông )nét nổi bật của trường phái này là việc sử dụng
men có nhiều màu sắc , hoa văn trang trí trên sản phẩm đẹp , cách điệu và trang
nhã …Họ chuyên sản xuất các tượng trang trí , các loại chậu hoa , đôn voi các
loại …
-Trường phái Triều
Châu (Chủ lò người gốc Triều Châu ,một số là người Hẹ ) . trường phái này thường
sử dụng men xanh trắng có nét vẽ đa dạng phong phú và hoa văn bình dị ,các cảnh
sơn thủy hữu tình , hình ảnh các con vật nhỏ như rồng , gà ,hoặc cây tre , tùng
bách có tính nghệ thuật gợi cảm . Sản phẩm làm ra đa số là đồ dùng gia dụng ,
thường dùng cho nhu cầu hàng ngày trong đời sống con người như chén , đĩa , tô , tộ các loại độc bình trang
trí cắm hoa .
-Trường phái Phúc
Kiến : sản phẩm đa số sử dụng men màu đen , màu da lươn ,hoa văn trang trí đơn
giản , cách tạo hình sản phẩm đa dạng , dáng đẹp khá sinh động .các loạin sản
phẩm tiêu biểu theo trường phái này gốm có : Ché đựng rượu , lu , vại chứa nước
, các đồ dùng nhỏ như hũ ,vịm , chậu vv..,
Ngày nay các trường
phái hầu như không còn có sự phân định rõ ràng như thời gian đầu của các làng gốm
sứ , bời lý do có sự phát triển công nghệ , về thị trường yêu cầu , nên các
làng gốm sứ , các trường phái đã có sự pha trộn xâm nhập lẫn nhau .các chủ sản
xuất nếu muốn tồn tại và phát triển , họ phải liên tục cải tiến mẫu mã , men
màu , hoa văn tạo dáng sản phẩm ,kể cả phải thay đổi chủng loại mặt hàng , sãn
xuất nhiều chủng loại thuộc các ‘’trường phái’’ khác trong cơ sở của mình để có
thể cạnh tranh trên thị trường .
Trên đất Bình Dương
ngoài các làng gốm sứ đã nêu trên ,còn có một loại lò sản xuất gốm sứ khác , mà
nếu không nêu ra đây thì quả thật là một
thiếu sót lớn . Đó là lò sản xuất gạch
,ngói và các vật dụng phục vụ trong xây dựng . Có một điều khác biệt lớn ở đây
là các lò sản xuất loại sản phẩm xây dựng này đa số là người Việt ,địa điểm xây
dựng ngoài khu Tân vạn ra , thì các lò tọa lạc rải rác trên toàn đại bàn Bình
Dương, không tập trung thành các làng như gốm sứ tiêu dùng như của người Hoa .
Trong giới nghiên cứu khi nói đến gốm sứ , mặc nhiên hiểu
rằng đó là gốm sứ tiêu dùng , chứ không đề cập đến gốm sứ xây dựng . Về quản lý
của chính quyền khi thống kê , quy hoạch , kế hoạch sản xuất chung của địa phương thường gộp chung cả gốm sứ
tiêu dùng và gốm sứ xây dựng